Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

con thằn lằn chọn nghiệp


con thằn lằn chọn nghiệp
                           Nhà văn HỒ HỮU TƯỜNG

      
Một cái am nhỏ nằm giữa một con đường truông thăm thẳm, vắng vẻ âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại. Am ấy mới được xây cất, độ non ba năm thôi. Trong am chỉ có một sư cụ già, thui thủi một mình quanh năm chẳng được ai thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn, vừa cao ngất, củi xếp rất vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lão trưởng giả chăm nom.
       Một hôm, trời đã tối rồi, nhà sư vừa lên đèn được một chặp, thì có hai người khách đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa rằng:
       - Bạch sư cụ, nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới dõi bước đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường.
        Nhà sư ung dung chắp tay đáp:
       -Nam mô A Di Đà Phật, của thiền bao giờ cũng mở rộng cho người lỡ bước.
       Rồi dừng một chút, dường như để trấn tĩnh nỗi vui đang sôi nổi trong lòng, nhà sư tiếp:
       - Ngót ba năm nay, tôi mở am nơi này, không được một ai đến viếng. Ngày nay là ngày hoàn mãn ước nguyện của tôi, may được hai vị khách quý quá bước, ghé nghĩ chân. Âu cũng là nhân duyên định sẵn  ...          
       Nói xong, nhà sư dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không đề, vô tình dẫn khách đến câu hỏi:
       - Bạch sư cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào trong thời khóa công phu của mình ?
       Vui sướng, vì như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:
       - Tôi quy y Phật pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói đã viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, trí tuệ được mở ra... Và từ ấy tôi chỉ tụng kinh Kim Cang.
       Một người khách hỏi:
       - Sư cụ có thể cho biết duyên cớ vì sao chăng?
       - Nam mô A Di Đà Phật, chỉ có lời nói, mà độ được người, tôi sao dám tiếc lời! Vậy tôi xin vui lòng mà nói cho hai ngài rõ. Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy: hai nghìn năm trăm năm về sau, Phật Pháp sẽ đến chỗ không còn những người tu học và chứng ngộ : ấy là thời mạt pháp. Đức Phật Di Lặc sẽ thị hiện xuống trần gian, mà cứu độ những kẻ thành tâm thực sự tu hành. Bởi lẽ ấy cho nên tôi có nguyện tụng đủ một nghìn lần kinh Kim Cang. Nếu lời nguyện ấy được thực hiện thì tôi sẽ đắc đạo.
       Người khách thứ hai hỏi:
       - Sư cụ tụng được bao nhiêu lần rồi?
       - Nam mô A Di Đà Phật, đã  được chín trăm chín mươi chín lần rồi. Bây giờ chỉ còn lần thứ một nghìn, ấy là lần tụng của đêm nay. Chắc hai ngài trước có gieo sẵn duyên lành với bần tăng, cho nên được dịp đến đây để mà chứng kiến tôi tụng lần thứ một nghìn ấy.
       Đến đây bữa cơm đã mãn, khách mệt mỏi, xin ngả lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết, rồi bước lại trước bàn Phật, khêu bấc đèn dầu, mở kinh ra và bắt đầu tụng niệm. Tiếng tụng kinh chậm rãi, như nện vào không gian. Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên đánh dấu tiếng mõ dài đằng đẵng ...
       Trước khi nhắm mắt ngủ, hai người khách còn trao đổi vài câu:
       - Tội nghiệp thay cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác ngộ. Phật Pháp được lập ra đã hai nghìn năm trăm năm trước, tránh sao cho chẳng có chỗ lỗi thời. Nhận thấy chỗ lỗi thời, các môn đệ của đức Phật ắt phải lo tài bồi, cách tân, phát triển mối đạo. Thế là có tư tưởng này, học thuyết nọ; rồi sinh ra môn, ra phái, ấy là nguồn gốc của sự phân nhánh chi li. Nay rừng thiền có hơn tám mươi bốn nghìn cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy.
       - Tôi cũng đồng ý với các anh về chỗ đó, và nghĩ thêm rằng: nếu bây giờ có một đức Phật Di Lặc xuống trần, thì vị Phật ấy có trọng trách sửa đổi, cân nhắc Phật pháp cho cao kịp với sự tiến hoá của mọi sự việc từ hơn hai nghìn năm nay.
Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của Phật là dọn mình cho sẵn, để đón rước cái giáo pháp mới mẻ chắc chắn sắp ra đời. Chớ mê mải trong việc gõ mõ tụng kinh, há chẳng phải là phụ lòng mong mỏi của đức Phật Thích Ca chăng ?    

       Lời nói của hai người khách, giữa một cái am vắng vẻ, không dè có kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm này là một con thằn lằn, nó đến trú ngụ ở am này từ khi am vừa mới dựng lên, và đã từng nghe chín trăm chín mươi chín lần kinh, nên có linh giác, trí tuệ khai mở, nghe hiểu được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê bình của hai người khách đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư lên dàn hỏa mà tự thiêu... Rồi nó nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân thì làm sao chứng ngộ và nhập được Niết-bàn. Hay là ta tìm phương pháp ngăn chận ông sư mê muội này, đừng để cho ngài thiêu thân, đợi chừng nào ngài giác ngộ thâm sâu hơn, rồi sẽ tìm phương kế khác.
       Rồi con thằn lằn quyết định : Phải ngăn ngừa, đừng để cho nhà sư tụng xong lần thứ một nghìn, nó nghĩ được một kế: ấy là bò lên bàn Phật, đến đĩa đèn dầu, ráng sức mà uống cạn đĩa dầu. Bấc sẽ lụn, đèn sẽ tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa. Như vậy, buổi tụng kinh sẽ bị gián đoạn tức thời.
       Một sức mầu nhiệm đã giúp con thằn lằn đạt được ý nguyện: chỉ trong một hơi mà đĩa dầu đã cạn; trong khi ấy, nhà sư vừa mới tụng bộ kinh chỉ mới quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nghiên nhưng nghĩ: hay là hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng giám việc đắc đạo của mình?         
Thôi thì mình hãy xếp bộ kinh Kim Cang này lại, tạm nghỉ một thời gian, chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng lần thứ một nghìn ấy.
       Nhưng sau đó, đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng kinh lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại rằng khi xưa đã có lời nguyện tụng kinh vào khuya, tĩnh mịch nên không dám đổi.
       Và một đêm kia, nhà sư bất an vô cùng cho nên dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà tâm hồn và đôi mắt cứ đặt vào dĩa đèn dầu phụng, chốc chốc lại liếc nhìn đĩa đèn dầu để xem sự thể do đâu.
Và nhà sư không  lấy ngạc nhiên khi bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư dừng gõ mõ, mà mắng rằng:
       - Loài nghiệt súc! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!
       Rồi tay cầm dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên giàn hỏa, tự châm lửa mà thiêu mình.
       Và cũng đêm ấy, hai cái thần thức được đưa đến trước tòa sen của đức Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà sư mà dạy:
       - Nhà ngươi theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài học vỡ lòng của Pháp ta là thế nào ! Pháp ta đã dạy phải chuyển hóa dục vọng thì mới đắc đạo, mà ngươi dục vọng lại quá nhiều: bởi việc muốn đắc đạo, để được thành Phật kia cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng ấy là THAM; bởi tham nên giận mắng con thằng lằn ấy là SÂN; bởi sân nên tưởng rằng trừ được con thằn lằn thì tha hồ tụng kinh, rồi đắc đạo, ấy là SI. Có đủ THAM, SÂN, SI, tất phải phạm tội sát sanh, thì dầu ăn chay trường trọn đời cũng chưa bù được.
       “Tội của người lớn lắm, phải tu luyện rất nhiều mới mong chuộc được.
Vậy ta truyền cho chư thần như Kim cang, La-hán hốt hết đống tro do xác ngươi thiêu mà hóa ra, rồi đem tro ấy tung khắp bốn phương trời. Mỗi hột tro đó sẽ hóa sanh làm một người. Chừng nào mọi người ấy đắc đạo, đám chúng sanh ấy sẽ được giải thoát, quy nguyên bản thể thanh tịnh, trở lại hiệp thành một, thì nhà ngươi sẽ đến trước tòa sen của ta mà viên thành chánh quả”.
       Rồi Phật cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy:
       - Nhà sư chưa được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là một mà thôi. Còn nhà ngươi, được nghe lời hai người khách, được giác một phần rồi, mà làm tội, tội ấy đáng kể là mười. Đây là theo lẽ công bằng mà phải phán định như vậy, !
Hồn con thằn lằn lạy mà thưa rằng:
       - Bạch đức Thế Tôn, thật lòng của đệ tử vốn là muốn cứu độ nhà sư ra khỏi vực u mê, tăm tối, dầu cho đệ tử tan nát tấm thân này thì cũng không tiếc. Chẳng hay đệ tử có tội chi?                    
Đức Phật phán:
       - Muốn cứu độ người khác, thì chẳng thiếu chi phương pháp, sao ngươi lại cả gan dám ngăn đón việc tụng kinh của người? Đã đành rằng tụng kinh như nhà sư là chưa phải hành vi chánh kiến hoàn toàn, song vẫn là một tín ngưỡng đáng khen ngợi. Cõi Phật vốn là cảnh giới đại từ đại bi, là cõi đại trí tuệ tự tại, nếu phạm đến tự do tín ngưỡng, thay vì kêu gọi lòng tự nguyện tự giác của người khác thì nhà ngươi lại sử dụng bạo lực, áp bức để dắt người vào, thì làm sao tránh khỏi sai quấy cho được? Bởi ngươi không dùng phương pháp tự nguyện, lại không tôn trọng tự do tư tưởng của người khác, vậy thì nhà ngươi là kẻ si mê, cố chấp, thiếu từ bi và trí tuệ dẫn tới việc đánh mất tự do, thì cả hai làm sao được vào cõi Cực Lạc ?
       Một lần nữa, con thằn lằn được ngộ nhập tri kiến Phật, bèn quỳ lạy mà sám hối:
       - Xin Đức Phật mở lòng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một kiếp nữa, để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị thần Kim cang, La-hán vừa tung ra đó.
       Phật đáp:
       - Ta cho ngươi được toại nguyện.
       Hồn con thằn lằn vừa muốn lạy Phật mà đi đầu thai, thì sực nhớ, nên bạch rằng:
       - Xin Đức Phật dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi?
       Phật đáp:                               
       - Nhà ngươi đã khá thức tỉnh, gần kề bến giác, phải tự mình chọn hình thể mà hóa sanh. Tự do chọn lựa chỗ thọ sanh và hình thể thọ sanh, mới có thể rèn luyện bản thân để bước vào cõi giải thoát tự tại.
       Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu, để có thể vừa dùng phương pháp tự do mà độ người, vừa có thể độ được số đông người. Số người ấy thì đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra. Thật chưa hề lúc nào có một thần thức bị trừng phạt phải đau khổ đến thế.
       Một hôm, trong cơn xiêu giạt, nó bỗng trông thấy bóng của hai ông khách khi xưa đã đến ngủ ở am. Vội vã, nó bay theo, vái chào và kể nỗi niềm đau đớn:
       - Hai ngài đã giúp cho tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi phải mang cái nghiệp vô định này. Đã trót làm ơn, xin độ cho tôi đến bờ bến.
       Hai ông khách đáp:
       - Chúng tôi đâu dám lên mặt thầy đời mà dạy người, huống chi lại dám đèo bòng mang lại một giải pháp cho một vấn đề nan giải. Nhưng đã lỡ gieo trong trí ngươi một ý nghĩ làm cho ngươi phải khổ như bây giờ, thì phải góp ý kiến để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Âúy gọi là chuộc lỗi.
       Hồn con thằn lằn gật đầu, cảm ơn trước. Một người khách nói:
       - Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ý hay lời đẹp mà làm cho vui lòng kẻ đọc mình, kẻ nghe mình - rồi lấy sự hứng thú của người làm sự sung sướng của mình, cho đó là sự “đắc đạo” của bản thân. Nếu phải mong muốn nói ra điều gì để khuyên nhắc người khác, thì buộc phải cố gắng trình bày cho bóng bẩy, văn hoa : được người khác vui lòng ưa muốn lắng nghe thì gọi là được việc, bằng không vừa ý người đọc người nghe, thì thôi, chứ không bao giờ ép buộc kẻ khác thuận theo ý mình, chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người...
       Nghe đến đó, thì một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:
       - Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lý thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ nầy được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có lòng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, thì cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hóa triệu triệu người... Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn chương của ngươi có thể nhen nhúm được trong lòng mỗi người một điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa sáng lên...
       Hồn con thằn lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói rằng:
       - Con đường ấy khó đi cho đến hết được, song chắc chắn là đi tới mục tiêu cuối cùng, ắt có thể dẫn tôi đến trước tòa sen mà chầu đức Phật. Vậy tôi xin cố gắng.



                           Nhà văn HỒ HỮU TƯỜNG

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

CHÌA KHÓA CỦA NIỀM VUI.











CHÌA KHÓA CỦA NIỀM VUI.


Đang lúc tinh thần suy sập...vô tình đọc được bài này
làm mình phấn chấn hẳn lên...

* Chìa khóa của niềm vui.


Tác giả chuyên mục nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời “cám ơn” nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền một tiếng cũng không mở miệng.

Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi “ông chủ đó thái độ kỳ quái quá phải không”?

Anh bạn nói “cứ mỗi buổi tối là anh ta đều như vậy cả”.

Sydney Harries lại hỏi tiếp “như vậy, tại sao bạn lại đối xử tử tế với ông ta chứ”?

Người bạn trả lời: “ tại sao tôi để ông ta quyết định hành vi của tôi chứ”?

Một người biết nắm chắc chìa khóa niềm vui của mình, thì người đó không đợi chờ người khác làm cho mình vui mà ngược lại mình còn có khả năng đem niềm vui đến cho người khác. Trong tâm của mỗi người đều có “chìa khóa của niềm vui”, nhưng chúng ta lại không biết nắm giữ mà đem giao cho người khác nắm lấy.

Một người phụ nữ thường than phiền trách móc : “tôi sống rất buồn khổ, vì chồng tôi thường vắng nhà!”, cô ta đã đem chìa khóa niềm vui của mình đặt vào tay chồng.

Một người mẹ khác thì nói “con trai tôi không biết nghe lời, làm cho tôi thường xuyên nổi giận!”, bà đã trao chìa khóa vui của mình vào tay con trai.

Một vị trung niên của một công ty thở dài nói “ công ty không thăng chức cho tôi, làm tinh thần tôi giảm sút,...!” anh ta lại đem chìa khóa niềm vui của cuộc đời mình nhét vào tay ông chủ.

Bà cụ kia than thở “con dâu tôi không hiếu thuận, cuộc đời tôi sao mà khổ!”.

Một thanh niên trẻ từ tiệm sách bước ra la lên “thái độ phục vụ của ông chủ đó thật đáng ghét, ...”

Những người này đều có một quyết định giống nhau, đó là để người khác đến khống chế tâm tình của mình. Lúc chúng ta cho phép ngừơi khác điều khiển và khống chế tinh thần chúng ta, chúng ta có cảm giác như mình là người bị hại, đối với tình huống hiện tại không có phương pháp nào khác nên trách móc và căm giận trở thành chọn lựa duy nhất của chúng ta.

Chúng ta bắt đầu trách móc người khác đồng thời chúng ta cũng truyền tải một yêu cầu là “tôi khổ như vậy là do anh/ chị/con ...và anh/ chị/con... phải chịu trách nhiệm về nổi khổ này”! Lúc đó chúng ta đem trách nhiệm trọng đại phó thác cho những người xung quanh và yêu cầu họ làm cho chúng ta vui. Chúng ta dường như thừa nhận mình không có khả năng tự chủ lấy mình, mà chỉ có thể nhờ người nào đó xếp đặt và chi phối mình. Những người như thế làm người khác không muốn tiếp cận, nhưng nhìn mà thấy sợ.

Nhưng, một người biết nắm chắc chìa khóa niềm vui của mình thì người đó không đợi chờ người khác làm cho mình vui mà ngược lại mình còn có khả năng đem niềm vui đến cho người khác. Tinh thần người đó ổn định, biết chịu trách nhiệm về chính mình không đỗ lổi cho người khác; biết làm chủ cảm xúc và biết tạo cũng như giữ được niềm vui cho chính mình, như thế thì trong cuộc sống và công việc hằng ngày người đó sẽ thảnh thơi vui vẻ không bị áp lực từ người khác.

- Chìa khóa của bạn ở đâu rồi? Đang nằm trong tay người khác phải không? Hãy nhanh lên mà lấy lại bạn nhé!!! Chúc mọi người đều giữ được niềm vui. 








(Như Nguyện dịch)



Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Tình bạn



Có bạn khi cần là điều dễ chịu 
và chia sẻ hạnh phúc. 


Ông ấy nhấn mạnh vào tình bạn nhiều lắm. Dịch lời của ông ấy dành cho tình bạn - maitri - có chút khó khăn bởi vì nó có phẩm chất của tính bạn còn hơn tình bạn. Tình bạn trở thành quan hệ, cố định; tính bạn còn tuôn chảy hơn, linh động hơn. Tình bạn là quan hệ, tính bạn là trạng thái của bản thể bạn. Bạn đơn giản mang tính bạn; với ai, đấy không phải là vấn đề. Nếu bạn đang đứng bên cạnh cây, bạn mang tính bạn với cái cây đó, hay nếu bạn đang ngồi trên đá, bạn mang tính bạn với tảng đá đó. Với con người, với con vật, với chim chóc, bạn đơn giản mang tính bạn. Nó không phải là cái gì đó tĩnh tại; nó là dòng chảy, thay đổi từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. 
Hình ảnh nội tuyến 1

Ông ấy nói: Có bạn khi cần là điều dễ chịu. 


Tính bạn là một trong những phẩm chất có ý nghĩa nhất để người tìm kiếm phát triển; nó thực sự dễ chịu. Nó làm cho toàn thể cuộc sống của bạn đầy âm nhạc dễ chịu, đầy hài hoà dễ chịu. Theo tầm nhìn của Phật nó còn cao hơn cái gọi là tình yêu. Cái gọi là tình yêu của bạn bị buộc vào sinh học của bạn; tính bạn là tự do khỏi sinh học. Cái gọi là tình yêu thông thường là như nhau trong mọi con người cũng như nó có trong con vật, như nó có trong cây cối. Nó hướng dục. Nó chỉ là lớp bọc đường quanh viên thuốc đắng của dục. Thực tế, nếu tình yêu bị lấy đi khỏi dục của bạn, dục sẽ có vẻ rất lố bịch. Chính vì lớp bọc đường mà bạn có thể nuốt viên thuốc. 


Quan sát con vật giao cấu và một điều bạn nhất định quan sát thấy; không thể nào không quan sát điều đó được; điều đó rõ ràng thế ở đó: chúng dường như không vui sướng. Chúng dường như vội vàng và mặt chúng có vẻ buồn, cứ dường như bị ép buộc bởi lực không biết nào đó vào hành động nào đó mà chúng không quan tâm. Do đó con vật có mùa động dục của chúng khi sinh học của chúng tóm lấy chúng, buộc chúng làm cái gì đó mà chúng không thực sự quan tâm chút nào. Chúng phải làm điều đó gần như nô lệ. Và một khi chúng đã hoàn thành việc giao cấu chúng đi xa nhau - thậm chí chẳng cám ơn! Chúng không nhìn nhau.

Các nhà khoa học nói tình yêu đã phát triển trong con người bởi lẽ đơn giản là con người là con vật duy nhất trên thế giới làm giao hợp dục mặt đối mặt. Bạn phải nói cái gì đó, bạn phải cười, bạn phải nói tạm biệt, bạn phải nói lâu thế. Bằng không thì kết thúc bất ngờ và trốn đi có vẻ thô thiển thế! Bởi vì bạn đang đối diện với nhau, bạn phải có chút ít lịch sự, chút ít văn hoá, chút ít lễ phép. Bạn phải cư xử theo cách thức nào đó; bạn không thể thô lỗ được.

Hình ảnh nội tuyến 2
 

Con vật không đối diện lẫn nhau trong khi làm tình cho nên chúng không đương đầu, chúng không nhìn vào mắt nhau. Đó là quá trình sinh học đơn giản và chúng gần như bị ép buộc bởi sinh học của chúng, bởi hooc môn của chúng, để trải qua điều đó. Chúng trải qua điều đó, chúng bị lôi qua điều đó như kẻ nô lệ. Và cùng điều đó là tình huống cho bạn; chỉ lớp bọc đường là khác. 


Tình bạn là hiện tượng cao hơn. Nó là tình yêu thuần khiết; nó chẳng liên quan gì tới sinh học của bạn. Tình yêu - tình yêu thông thường - có thể được giải thích qua sinh học, nhưng tình bạn không thể được giải thích. Nó là điều huyền bí. Tình bạn giống như hương thơm; tình yêu là thô, bởi vì tính dục của nó, bởi vì nguồn gốc của nó. Nó hơi nặng chút ít. Nó vận hành dưới luật hấp dẫn: nó cứ kéo xuống, nó không có cánh. Tình bạn có cánh. Nó là phi sinh học; nó làm cho bạn thực sự là con người, nó giúp bạn siêu việt lên trên tính con vật của mình. 


Phật ca ngợi tình bạn, tính bạn, rất cao. Ông ấy thậm chí đã chọn rằng khi ông ấy quay lại lần nữa tên ông ấy sẽ là Maitreya (Di Lặc) - người bạn. Ông ấy phải đã yêu thế giới này lắm. Tôi không nghĩ ông ấy sẽ tới lần nữa hay ai đó đã bao giờ tới lần nữa. Thượng đế chưa bao giờ phạm cùng sai lầm lặp lại, nhớ lấy! Một lần là quá đủ rồi, hai lần sẽ là quá nhiều. Nhưng ông ấy phải đã yêu thế giới này nhiều tới mức ông ấy nói, "Lần sau, nếu ta mà tới, tên ta sẽ là Maitreya - người bạn." Từ này hàm chứa toàn thể triết lí của ông ấy. 


Ông ấy nói: Có bạn ... là điều dễ chịu


Tại sao điều đó lại dễ chịu? - bởi vì với bạn bè, mối quan hệ của bạn không mang tính vật lí, nó thậm chí không mang tính tâm lí; nó là giao cảm tâm linh. Với bạn bè, bạn có thể ngồi trong im lặng. Khi bạn ở cùng với người yêu của mình, bạn không thể ngồi trong im lặng được; im lặng có vẻ vụng về. Người đàn bà sẽ nghĩ, "Sao anh im lặng? Anh giận hay cái gì thế?" Và nếu cô ấy im lặng, bạn sẽ nghĩ điều gì đó sai - cô ấy đang hờn dỗi. Sao cô ấy im lặng thế? Im lặng trở thành nặng nề, gánh nặng; nó phải được loại bỏ. 

Hình ảnh nội tuyến 3


Cho nên mọi người cứ nói, dù điều đó có cần hay không. Họ cứ nói về bất kì cái gì.

Mulla Nasruddin đã từ một làng tới gặp tôi trong chiếc xe bò của anh ta, cùng con chó của anh ta. Trời quá nóng, trưa hè, và bỗng nhiên anh ta ngạc nhiên là con chó nói, "Trời nóng quá." 

Anh ta nhìn quanh; chẳng có ai cả, chỉ mỗi con chó của anh ta. Anh ta nói với với con bò đực, "Mày có nghe thấy không? Mày có nghe thấy cái gì vừa xảy ra không?"
Và con bò đực nói, "Có chứ, nó cũng giống như bất kì ai khác thôi - bao giờ cũng nói về thời tiết và chẳng làm gì cả."
 

Nếu mọi người không có gì khác để nói, họ nói về thời tiết. Bất kì cái gì cũng có tác dụng, cứ việc nói. Theo một cách nào đó, việc nói giữ cho bạn được gắn nối. Thực tế, nó làm bạn bị ngắt ra. Nó không phải là chiếc cầu; hiếm khi nó là chiếc cầu. Nó là chiếc cầu chỉ giữa thầy và đệ tử; ngoài ra nó không phải là chiếc cầu. Khi thầy nói ra từ im lặng của mình và đệ tử lắng nghe từ im lặng của mình, đó là chiếc cầu. Bằng không đó là bức tường, bức Trường Thành Trung Quốc. 

Hình ảnh nội tuyến 4

Những người yêu đều đối diện nhau. Họ phải nói điều gì đó; bằng không im lặng trở thành vụng về, bối rối. Bạn bè không đối diện với nhau theo cách đó. Họ đối diện với cái gì đó - có thể mặt trời lặn, con chim tung cánh, đám mây trắng đẹp. Cầm tay nhau, ngồi cạnh nhau, họ đối diện với cái gì đó khác. Họ cả hai đều cùng đối diện với cái gì đó khác. Họ đang trong một loại giao cảm sâu sắc, họ là một. Trái tim họ đang đập trong hài hoà. Những người bạn thực ngồi cùng nhau sẽ thấy rằng tim họ bắt đầu đập theo cùng một cách. Họ thậm chí bắt đầu thở trong hài hoà; khi người này thở ra, người kia thở ra. Điều này xảy ra theo cách riêng của nó; đó là sự đồng bộ. Khi bạn cảm trong giao cảm, điều này xảy ra.
Điều này xảy ra ở đây mọi ngày. Khi bạn đang trong giao cảm với tôi điều đó xảy ra.

Nhiều sannyasin viết cho tôi, "Thưa Thầy kính yêu, làm sao điều đó xảy ra? Ngay trước khi thầy nói điều gì đó chúng tôi biết thầy sắp nói điều này. Điều đó rõ ràng thế và thế rồi thầy nói nó." Điều đó xảy ra bởi vì giao cảm sâu sắc. Khi nó nảy sinh trong bản thể tôi, nó bắt đầu nảy sinh trong bản thể bạn.

Do đó điều tối thượng giữa thầy và đệ tử là im lặng, ngồi cùng nhau. Không cần nói cái gì cả. Bất kì cái gì xảy ra trong bản thể thầy cũng bắt đầu xảy ra trong bản thể đệ tử. Đệ tử bắt đầu phản xạ thầy như tấm gương. 


Trên qui mô nhỏ hơn cùng điều đó xảy ra với bạn bè. Nhưng với bạn bè Phật không ngụ ý quen thuộc. Với bạn bè ông ấy ngụ ý tình yêu đã vượt ra ngoài tính dục, tình yêu đã vượt ra ngoài sinh học, tình yêu đã siêu việt lên trên tự nhiên thông thường, siêu việt lên trên lực hấp dẫn và đã trở thành một phần của luật cao hơn về duyên dáng. 


Hình ảnh nội tuyến 5


Có bạn là điều dễ chịu và chia sẻ hạnh phúc.... 


Bạn có thể chia sẻ hạnh phúc của mình chỉ với bạn bè. Việc chia sẻ là có thể chỉ khi hai trái tim mở ra cho nhau; chỉ trong tin cậy sâu sắc bạn mới có thể mở ra cho người kia. Trong sợ hãi bạn bị đóng lại, trong hoài nghi bạn bị đóng lại. Bạn cảnh giác. Bạn sợ người khác có thể là mối nguy hiểm nào đó với bạn, người khác có thể gây hại nào đó. Bạn không mong manh khi bạn sợ. Chỉ với bạn bè, bạn mới có thể mong manh, cởi mở, sẵn có. Thế thì việc chia sẻ là có thể. Và việc chia sẻ là một trong những phẩm chất tâm linh vĩ đại nhất.


Phép màu là ở chỗ bạn càng chia sẻ phúc lạc của mình bạn càng có nó nhiều hơn. Bạn càng chia sẻ, nó càng tới với bạn nhiều hơn. Bạn càng chia sẻ, bạn càng trở nên nhận biết về cội nguồn không cạn bên trong bản thân mình. 


Hạnh phúc là lớn lao trong bản thân nó, nhưng chia sẻ làm cho nó cực kì giầu có, giầu có đa chiều. Nếu một người là kẻ keo kiệt về hạnh phúc của mình, người đó sẽ giết chết nó. Tích trữ hạnh phúc của mình là phá huỷ nó; lan toả nó xa và rộng là giúp nó lớn lên ngày càng nhiều hơn. Keo kiệt là rất nguy hiểm khi có liên quan tới phúc lạc. 


Nhưng bạn sẽ chia sẻ với ai nếu bạn không có bạn bè, nếu bạn không biết nghệ thuật là bạn? Nếu bạn biết nghệ thuật là bạn, bạn có thể chia sẻ với nhiều người nhất có thể được, với nhiều con vật nhất có thể được, với nhiều cây cối nhất có thể được. Bạn có thể chia sẻ mọi khoảnh khắc của cuộc sống của mình bởi vì bạn bao giờ cũng ở cùng ai đó. Bạn có thể chia sẻ nó với mặt trời, với mặt trăng, với các vì sao. Không khoảng cách nào ngăn cản. Bạn có thể chia sẻ phúc lạc của bạn với người bạn ở xa, xa xăm, xa cách cả nghìn dặm với bạn. Trong khoảnh khắc đó của việc chia sẻ, khoảng cách biến mất, thời gian biến mất. Không có lỗ hổng thời gian, không có lỗ hổng không gian. Bạn bỗng nhiên cùng nhau. Bạn thậm chí có thể chia sẻ với những người bạn không còn sống nữa. Trong giao cảm sâu sắc họ trở thành sẵn có cho bạn, phi vật lí. 

Hình ảnh nội tuyến 6


và để làm cái gì đó tốt lành 

trước khi rời khỏi cuộc sống này là điều dễ chịu, 

và buông bỏ nỗi buồn.
 


Tình bạn là tốt, nó là đức hạnh. Chia sẻ niềm vui của bạn là tốt, nó là đức hạnh lớn lao. Thực tế, tất cả các đức hạnh khác đều là sản phẩm phụ của chia sẻ phúc lạc của bạn. Chia sẻ là chính nền tảng, cội nguồn. Chia sẻ chân lí của bạn, chia sẻ thiền của bạn, chia sẻ tình yêu của bạn. Chia sẻ bất kì cái gì đẹp bên trong nảy sinh trong bạn, bất kì cái gì rạng ngời bên trong nảy sinh trong bạn. Chia sẻ ngọn lửa bên trong của bạn và không bao giờ là kẻ keo kiệt, và bạn sẽ trở nên ngày một giầu có hơn và không có chấm dứt cho sự giầu có đó. 


Trong thế giới thông thường chia sẻ sẽ làm cho bạn nghèo đi. Nếu bạn chia sẻ tiền bạc, bạn sẽ thành nghèo. Bạn phải là kẻ tích trữ, bạn phải keo kiệt. Trong thế giới bên trong chính điều ngược lại mới là hoàn cảnh: tích trữ, và bạn sẽ mất; chia sẻ, và bạn sẽ có nó. 


Trong thế giới bên trong một luật khác biệt toàn bộ tồn tại. Ở đó bạn có thể có cái bánh và bạn có thể ăn nó nữa. Và sẽ là tốt hơn nếu bạn không ăn nó một mình, nếu bạn mời bạn bè mình cùng ăn với bạn. 

Hình ảnh nội tuyến 7



Hình ảnh nội tuyến 8